Top Banner

Các dấu hiệu của bệnh loãng xương

  • Đăng bởi: Bùi Huyền Hương
  • 26/09/2016
  • 768 lượt xem

Bệnh loãng xương ở thời gian đầu không có triệu chứng gì đặc biệt nên rất khó để nhận ra. Một số dấu hiệu sau đây giúp bạn nhận biết bệnh sớm hơn để điều trị kịp thời.

Đau xương

Người bệnh thường đau nhức các đầu xương; đau nhức, mỏi dọc các xương dài; đau nhức như châm chích toàn thân. Thường đau ở vùng xương chịu gánh nặng của cơ thể (cột sống, thắt lưng, xương chậu, xương hông, đầu gối), đau nhiều lần nếu là sau chấn thương, đau âm ỉ nếu là tự phát. Đau sẽ tăng lên khi vận động, đi lại, đứng ngồi lâu và sẽ thuyên giảm khi nằm nghỉ.

Ngoài ra, người bệnh còn bị đau cột sống, đau như thắt ngang cột sống hoặc đau lan sang một hoặc hai bên mạn sườn do kích thích các rễ thần kinh liên sườn, đau dọc theo các dây thần kinh liên sườn, dọc theo dây thần kinh đùi, thần kinh tọa, có khi đau tăng lên do hắt hơi, ho, nín hơi, sổ mũi, xì hơi, cười to, khóc to… Đau cột sống thường kèm theo co cứng các cơ dọc cột sống gây đau, giật cơ khi thay đổi tư thế. Lúc nằm người bệnh thường cảm thấy dễ chịu hơn.

Cột sống sẽ biến dạng đường cong bình thường, như gù, vẹo, còng lưng, chiều cao của cơ thể giảm vài cm so với tuổi lúc còn trẻ (bởi loãng xương làm cho các đốt sống bị lún, xẹp hoặc bị gãy lún).

Khi đau nhiều các cơ cạnh cột sống sẽ co cứng, nên bệnh nhân khó thực hiện các động tác (như: cúi, ngửa, nghiêng người, quay người, cột sống như cứng đờ).

Dấu hiệu toàn thân thường gặp

Một số dấu hiệu toàn thân thường gặp là cảm giác lạnh hoặc ớn lạnh, hay bị chuột rút, vọp bẻ, thường ra mồ hôi; thường gặp kèm theo các rối loạn khác của tuổi già (béo bệu, giãn tĩnh mạch chân, thoái hóa khớp, cao huyết áp, vữa xơ mạch máu…).

Biểu hiện lâm sàng có thể xuất hiện đột ngột sau một chấn thương nhẹ ( ngã, đi xe đường quá sóc…), có thể xuất hiện từ từ tăng dần. Khi đã có các triệu chứng lâm sàng rõ ràng nêu trên thì khối lượng xương của cơ thể thường đã giảm khoảng 30% trở lên. Lúc này, nếu chụp X-quang thì trên phim thường có thể thấy rõ hiện tượng loãng xương như: xương tăng thấu quang, vỏ xương bị mỏng đi, các đốt sống bị biến dạng (lún xẹp hoặc gãy lún). Lúc này, nếu đo mật độ xương thì sẽ thấy chỉ số T-Sore ≤ – 2,5, tức là đã bị loãng xương.

Biện pháp phòng và hỗ trợ điều trị hiệu quả bệnh loãng xương

Khi đã bị loãng xương, phải điều trị tích cực và lâu dài. Các thuốc điều trị thường rất đắt tiền và không giúp điều trị bệnh triệt để, mà chỉ giúp cho bệnh không nặng thêm, hạn chế biến chứng. Chính vì vậy, cần phải điều trị càng sớm càng tốt khi có tình trạng giảm mật độ xương hoặc loãng xương và phòng bệnh là quan trọng nhất. Việc này giúp cho con người vận động dẻo dai và kéo dài tuổi thọ.

Phòng và hỗ trợ điều trị sớm là giải pháp thông minh nhất: Với mục đích phòng bệnh loãng xương càng sớm càng tốt, ngăn ngừa thoái hóa và hỗ trợ điều trị bệnh. Khi đó, nên phòng và hỗ trợ điều trị thoái hóa xương và loãng xương bằng viên uống chứa các thành phần như Canxi nano, D3, MK7, magie, đồng, kẽm, mangan, boron, silic, DHA, Quercetin. Nên uống liên tục hàng ngày hoặc thành từng đợt mỗi đợt 3 tháng, mỗi năm dùng 2-3 đợt.

Đối với phụ nữ tiền mãn kinh và đã mãn kinh (sau tuổi 45, nên uống bổ sung thêm Estrogen từ thảo dược (EstroG 100), thành từng đợt 3 tháng, mỗi năm uống 2-3 đợt.

Nếu có thêm hiện tượng đau khớp, đồng thời áp dụng biện pháp phòng và hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp bằng Glucosamin và Chondroitin: Nên uống thành từng đợt, mỗi đợt khoảng 2 tháng, mỗi năm dùng khoảng 3 đợt.

Tags :